Tìm hiểu về phụ gia bảo quản Acid Sorbic

Bảo quản thực phẩm là một công đoạn rất quan trọng trong quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ thực phẩm vì có tác dụng tiêu diệt hoặc ức chế các vi khuẩn và nấm mốc, chống ôxy hóa. Hiện nay, có nhiều cách bảo quản sản phẩm, trong đó việc dùng chất phụ gia thực phẩm là phổ biến nhất. Axit sorbic là một hợp chất tự nhiên đã trở thành chất bảo quản thực phẩm được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới.

Thực phẩm bị mốc

Acid sorbic là gì?

Acid sorbic hay axit 2,4-hexadienoic là hợp chất hữu cơ tự nhiên được dùng làm chất bảo quản thực phẩm. Chất này có công thức hóa học C6H8O2. Đây là chất rắn không màu ít tan trong nước và dễ thăng hoa. Nó được phân tách lần đầu từ quả berry còn xanh (Sorbus aucuparia).

CTCT

Acid sorbic

Tính chất acid sorbic

Acid sobic là bột tinh thể trắng, tan không đáng kể trong nước lạnh (0.16g/100ml ở 20oC) và tan dễ hơn trong nước nóng (ở 100oC tan 3.9%), có vị chua nhẹ.

Acid sorbic

Công dụng của acid sorbic

Ức chế nấm men nấm mốc trong môi trường pH từ 3.2-6 và nồng độ 1g/1Kg thực phẩm

Acid sorbic không có hiệu quả đối với vi khuẩn Clostridium, Bacillus, Salmonella, Lactobacilus, Pseudomonas.

Tham gia tạo mùi, tạo vị cho sản phẩm

Hoạt tính chống vi sinh vật của acid sorbic

Hoạt tính chống vi sinh vật của acid sorbic thể hiện mạnh nhất khi hợp chất ở trạng thái không phân ly, pKa của acid sorbic là 4.75 vì vậy hoạt tính chống vi sinh vật thể hiện mạnh nhất ở pH thấp và về cơ bản không tồn tại ở pH > 6 – 6.5 .

Cả hai hình thức này đều thể hiện sự ức chế nhưng acid dạng không phân ly có hiệu quả hơn dạng còn lại 10 – 60 lần. Tuy nhiên, ở pH > 6 acid dạng phân ly lại có hiệu quả hơn dạng không phân ly.

Một số chủng nấm men có khả năng chống chịu acid sorbic và các muối sorbate. Điều này được giải thích là do ở nồng độ cao acid sorbic có khả năng kìm hãm sự phát triển và quá trình trao đổi chất của nấm men nhưng acid này ở nồng độ thấp lại bị nấm men chuyển hóa.

Người ta cho rằng sự giảm hoạt tính của các muối sorbate là do phản ứng decacboxyl diễn ra bên trong sợi nấm và đi kèm với sự hình thành 1, 3 – pentadien, chất này có mùi giống mùi dầu lửa hay các hydrocacbon. Bên cạnh đó, cũng có một số giống nấm mốc có khả năng chống chịu acid sorbic.

Qua đó, ta thấy rằng acid sorbic và các muối sorbate có tác dụng mạnh đối với nấm mốc và nấm men, ít có tác dụng đến vi khuẩn.  Có thể ứng dụng trong bảo quản rau quả muối chua.

Cơ chế kìm hãm sự phát triển của vi sinh vật

Acid sorbic tác dụng lên hệ enzyme (dehydrogenase ) trong tế bào vi sinh vật, loại enzym này liên quan đến quá trình oxy hóa acid béo. Sự bổ sung aicd sorbic dẫn đến sự tích lũy các acid béo không no mà các acid này là sản phẩm trung gian của quá trình oxy hóa các acid béo bởi nấm men và nấm mốc.

Acid sorbic cũng kìm hãm các enzyme sulfhydryl. Những enzyme này đóng vai trò rất quan trọng trong tế bào vi sinh vật bao gồm: fumarase, aspartase, succinic dehydogenase và alcohol dehydrogenase của nấm men.  Muối sorbate  hình thành các phức bền với các enzyme có chứa sulfhydryl,  kìm hãm các enzyme bởi sự hình thành liên kết đồng hóa trị giữa sulfat của nhóm sulfhydryl chính hoặc Zn(OH)2 của enzyme và carbon của ion sorbate.

Acid Sorbic còn can thiệp vào sự vận chuyển các chất qua màng tế bào chất.

Ứng dụng acid sorbic trong thực phẩm

Sử dụng cho các thực phẩm nướng, đồ uống, bánh mì, phomat, cá hun khói, cá muối, nước trái cây, xúc xích, siro, mứt, rượu vang, thịt đông lạnh,…

Được dùng để bảo quản nước rau quả, giữ  tốt trong thời gian dài với liều lượng 0.05-0.06%.

Ứng dụng acid sorbic trong thực phẩm

Liều lượng sử dụng acid sorbic

  • INS: 200
  • ADI: 0 – 25.
  • Trong  sữa và sữa bơ  ML: 1000.
  • Đồ uống có sữa, hương liệu hoặc lên men ML: 300.
  • Sữa lên men (nguyên kem) ML: 300.
  • Các loại pho mát   ML: 3000.

Quy trình sản xuất Sorbic Acid

Quy trình sản xuất acid sorbic từ một Polyester thu được bằng phản ứng của Crotonaldehyde với Ketene và sử dụng muối kẽm acid hữu cơ như một chất xúc tác, trong đó bao gồm quá trình hòa tan Polyester trong dung môi Hydrocarbon, hòa tan trong nước từ 92 ° đến 100 ° C., sau khi rửa lọc Polyester với nước hoặc acid để loại bỏ chất kẽm và tiếp tục tiếp xúc với các dung dịch có acid mạnh, trao đổi ion, quá trình này đơn giản, lợi nhuận. Sorbic Acid có thể hạn chế hiệu quả hoạt động của nấm mốc, men và vi khuẩn Aerophile. Cản trở việc tăng trưởng và sinh sản của các vi sinh vật độc hại như Pseudomonas, Sorbic Acid kéo dài thời gian lưu trữ thực phẩm mà vẫn lưu giữ được ban đầu. Nó được dùng làm chất bảo quản thực phẩm.

Sử dụng acid sorbic có an toàn không?

Sử dụng acid sorbic có an toàn không?

U. S. Food and Drug Administration cho rằng acid sorbic an toàn cho việc sử dụng thường xuyên, vì nó không liên quan đến ung thư hoặc các vấn đề sức khoẻ lớn khác. Một số người có thể bị dị ứng với acid sorbic, nhưng phản ứng thường nhẹ và có ngứa da nhẹ. Trong khi bệnh viêm da dị ứng hiếm gặp có thể xảy ra, nhưng trớ trêu thay, các loại kem corticosteroid bán tự do có chứa sorbic acid thường là thủ phạm. Người bị bệnh eczema nên tránh dùng axit sorbic trong mỹ phẩm vì có thể gây kích ứng, nhưng tránh dùng trong thực phẩm là không cần thiết. Nếu da bạn phản ứng xấu với axit sorbic, bạn có thể điều trị nó bằng cách rửa vùng bị ảnh hưởng bằng nước và áp dụng kem chống ngứa. Nếu nó gây ra vấn đề trong bạn, uống tám ounces nước thường làm giảm các triệu chứng.

Trong khi cực kỳ hiếm, các phản ứng độc đối với axit sorbic có thể xảy ra khi xử lý nó ở dạng tinh khiết, không pha loãng. Trong những trường hợp này, Mạng dữ liệu về độc tính của Thư viện Y học Quốc gia khuyến cáo nên rửa da và quần áo của bạn. Nếu hít phải, đưa người đó đến không khí trong lành. Trong khi rất hiếm, bạn có thể cần phải nằm viện nếu bạn bị chứng quá mẫn. Đây là phản ứng dị ứng nghiêm trọng có thể khiến bạn bị sốc, nhợt đi, nổi ban, và buồn nôn.

Axit sorbic có vai trò quan trọng  đối với lưu trữ và vận chuyển thực phẩm trong khoảng thời gian dài. Nó an toàn cho người sử dụng, dị ứng với acid sorbic hiếm xảy ra và nếu có thì rất nhẹ. Tùy theo từng loại thực phẩm mà sử dụng đúng liều lượng để mang lại hiệu quả cao nhất và không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

Hiểu biết cơ bản về quá trình đồng hoá

Đồng hóa là gì?

Trong công nghiệp thực phẩm, quá trình đồng hóa được thực hiện trên hệ nhũ tương (emulsion) hoặc huyền phù (suspension). Đây là quá trình làm giảm kích thước các loại hạt thuộc pha phân tán và phân bố đều chúng trong pha liên tục để hạn chế sự tách pha dưới tác dụng của trọng lực.

Quá trình đồng hóa thường được thực hiện chủ yếu ở hệ huyền phù và hệ nhũ tương.

Hệ nhũ tương

Nhũ tương là một hệ gồm hai chất lỏng không hòa tan nhưng được trộn lẫn với nhau. Khi đó một chất lỏng sẽ tồn tại dưới dạng hạt (gọi là pha không liên tục, pha phân tán hoặc pha nội) trong lòng của chất lỏng còn lại (được gọi là pha liên tục, pha không phân tán hoặc pha ngoại). Hệ nhũ tương đơn giản gồm có hai thành phần: nước và dầu. Thuật ngữ “nước” chỉ chất lỏng phân cực và thuật ngũ “dầu” chỉ chất lỏng không phân cực. Từ đó ta có hai dạng nhũ tương cơ bản:

  • Dầu trong nước (o/w): dầu ở dạng pha phân tán và nước ở dạng pha liên tục.
  • Nước trong dầu (w/o): nước ở dạng pha phân tán và dầu ở dạng pha liên tục.

Hai dạng nhũ tương: dầu trong nước (o/w) và nước trong dầu (w/o)

Cần chú ý là nước và dầu trong thực phẩm không tồn tại ở dạng tinh khiết mà còn chứa nhiều hợp chất tan và không tan khác. Ngoài ra, đôi khi chúng ta còn gặp những hệ nhũ tương rất phức tạp. Ví dụ như hệ nước trong dầu trong nước (w/o/w) bao gồm các hạt nước đường kính nhỏ được phân tán trong các hạt dầu có kích thước lớn hơn và những hạt dầu này lại được phân tán trong pha liên tục là nước…

Hệ huyền phù

Nếu để yên dịch huyền phù, chất rắn có kích thước thích hợp (dựa vào sự khác nhau về tỉ trọng của chất rắn và của chất lỏng trong dung dịch) sẽ lắng xuống đáy tạo thành một lớp cặn (sa lắng). Hiện tượng này sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng một số sản phẩm.

Sa lắng trong dung dịch theo thời gian

Do đó, người ta cần thực hiện quá trình đồng hóa đối với một số loại sản phẩm chẳng hạn như dịch quả… nhằm phân tán đều các cấu tử rắn lơ lửng vào dung dịch tạo một khối sản phẩm đồng nhất.

Để đồng hóa được hệ huyền phù, người ta cũng thực hiện các quá trình tương tự như ở hệ nhũ tương.

Hệ bọt và các dạng hỗn hợp nhão – đặc quánh

Trong các hệ này pha rắn có hàm lượng khá cao phân bố vào pha lỏng. Ví dụ: bột nhão trong sản xuất bánh, phô mai,…

Bơ đậu phộng

Các phương pháp đồng hóa

Có thể phân thành 3 nhóm:

  • Đồng hóa bằng phương pháp khuấy trộn
  • Đồng hóa bằng phương pháp sử dụng áp lực cao
  • Đồng hóa bằng các phương pháp khác

Trong công nghệ chế biến sữa, quá trình đồng hóa được sử dụng rộng rãi là phương pháp đồng hóa bằng áp lực cao. Trong phương pháp này, các hạt của pha phân tán sẽ bị phá vỡ và giảm kích thước khi ta bơm hệ nhũ tương qua một khe hẹp với tốc độ cao. Kích thước của khe hẹp có thể dao động trong khoảng 15 – 300µm và hệ nhũ tương được đẩy đến khe hẹp với tốc độ dòng 50 – 200m/s. Do tốc độ qua khe hẹp cao sẽ tạo ứng suất kéo lơn, hạt bị biến dạng và vỡ ra.

Cơ chế của phương pháp đồng hóa áp lực cao được giải thích theo những nguyên lý:

Nguyên lý chảy rối: Khi hệ nhũ tương được bơm với tốc độ cao đến khe hẹp, nhiều dòng chảy rối với các vi lốc xoáy sẽ xuất hiện. Khi đó tốc độ bơm càng lớn thì số dòng chảy rối sẽ xuất hiện càng nhiều và kích thước các vi lốc xoáy sẽ càng nhỏ. Chúng sẽ va đập vào các hạt của pha phân tán và làm cho các hạt này bị vỡ ra.

Nguyên lý xâm thực: Hệ nhũ tương được bơm đến khe hẹp với tốc độ cao sẽ làm xuất hiện các bong bóng hơi trong hệ. Chúng sẽ va đập vào các hạt của pha phân tán và làm vỡ hạt. Sự đồng hóa chỉ diễn ra khi hệ nhũ tương rời khỏi khe hẹp, do đó đối áp giữ một vai trò quan trọng và sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả đồng hóa. Ngoài ra do cấu tạo thiết bị, khi thoát khỏi khe hẹp, các hạt phân tán sẽ tiếp tục va đập vào bề mặt cứng. Hiện tượng này cũng góp phần làm vỡ và giảm kích thước của các hạt.

Những biến đổi nguyên vật liệu sau quá trình đồng hóa

Biến đổi vật lý

  • Đồng hóa làm giảm kích thước của các hạt phân tán trong hệ nhũ tương hoặc huyền phù, nhằm hạn chế hiện tượng tách pha trong quá trình bảo quản sản phẩm. Kích thước của các hạt phân tán càng nhỏ thì khả năng bị tách pha của huyền phù hoặc nhũ tương càng khó xảy ra.
  • Số lượng hạt vật liệu rắn trong huyền phù tăng lên, hình dạng và độ lớn của các hạt vật liệu sẽ thay đổi làm ảnh hưởng đến tính chất dẻo cũng như độ nhớt của huyền phù.
  • Đối với hệ nhũ tương, sau khi đồng hóa các chất lỏng trong hệ thì độ nhớt của hệ sẽ lớn hơn độ nhớt của hệ ban đầu.
  • Kết quả đồng hóa chất lỏng làm cho sự tiếp xúc lẫn nhau giữa các cấu tử được tăng lên và các cấu tử này có thể xảy ra các phản ứng hóa học với nhau.
  • Việc sử dụng áp lực cao để thực hiện quá trình đồng hóa sẽ làm tăng nhiệt độ của nguyên liệu. Kết quả thực nghiệm cho thấy nếu như áp lực sử dụng tăng 40 bar thì nhiệt độ nguyên liệu sẽ tăng 1oC. Trong công nghiệp thực phẩm, giá trị áp lực sử dụng thường dao động trong khoảng 200 – 300 bar tương đương với khoảng tăng nhiệt độ nguyên liệu trong quá trình đồng hóa là 5 – 7.5oC. Như vậy, mức độ làm tăng nhiệt cho nguyên liệu là không lớn.

Biến đổi hóa lý

Đồng hóa làm tăng diện tích bề mặt tiếp xúc giữa hai pha phân tán và liên tục trong hệ nhũ tương hoặc huyền phù. Khi đó các giá trị như năng lượng bề mặt và sức căng bề mặt trong hệ phân tán sẽ thay đổi. Khi có sử dụng chất nhũ hóa, chúng sẽ phân bố tại vị trí bề mặt tiếp xúc pha trong hệ phân tán, nhờ đó mà độ bền pha phân tán của sản phẩm sẽ gia tăng.[/su_service]

Biến đổi hóa học, sinh học

Trong quá trình đồng hóa, các biến đổi này xảy ra không đáng kể.

Đồng hóa là một quá trình quan trọng trong công nghệ sản xuất thực phẩm, giúp cho sản phẩm hài hòa, đồng nhất, làm tăng giá trị cảm quan, tránh hiện tượng tách lớp trong một thời gian dài. Tùy theo từng sản phẩm cụ thể mà quá trình đồng hóa sẽ áp dụng các thông số cũng như lựa chọn các thiết bị đồng hóa khác nhau. Do đó, trong quá trình sản xuất, bạn nên tìm hiểu thật kĩ đặc tính sản phẩm cần sản xuất để thực hiện quá trình đồng hóa một cách tốt nhất nhé.máy đồ

Chất nhũ hoá trong sản xuất thực phẩm

Chất nhũ hóa thường được sử dụng rộng rãi trong ngành thực phẩm. Nó có mặt hầu hết trong thành phần nguyên Iiệu của các sản phẩm như nước giải khát, bánh kẹo, bơ, maragine, sữa, kem.. Việc hiểu rõ cấu trúc, tính chất vật lý, hóa học cũng như cách sử dụng của chất nhũ hóa rất quan trọng trong việc phát triển các sản phẩm thực phẩm.

Phụ gia nhũ hóa

Chất nhũ hóa là gì?

Chất nhũ hóa là chất làm giảm sức căng bề mặt của các pha trong hệ và từ đó duy trì được sự ổn định cấu trúc của hệ nhũ tương. Trong cấu trúc phân tử của chất nhũ hóa có cả phần háo nước và phần háo béo.

Chất nhũ hóa được sự dụng nhằm tạo sự ổn định của hệ keo phân tán trong pha liên tục bằng cách hình thành một bề mặt điện tích trên nó. Đồng thời nó còn làm giảm sức căng bề mặt của các giọt phân tán từ đó giảm được năng lượng hình thành các giọt trong hệ. Chất nhũ hóa đa số là ester của acid béo và rượu:

Chất nhũ hóa là gì

Trong quá trình sử dụng, người ta thường dùng giá trị HBL để đánh giá mức độ ưa béo hay ưa nược của chất nhũ hóa. Từ đó có thể lựa chọn loại nào cho phù hợp với sản phẩm cụ thể.

Chất nhũ hóa là gì

Nếu HLB thấp (có nhiều gốc ưa nước hơn so với gốc ưa béo) thì chất nhũ hóa này phù hợp với hệ nước trong dầu và ngược lại.

Đặc tính của chất nhũ hóa

Các chất  nhũ hóa có một trong những đặc tính sau đây:

  • Giảm sức căng bề mặt của một chất lỏng bằng cách làm giảm sức căng bề mặt tại bề mặt tiếp xúc của hai chất lỏng.
  • Nếu có nhiều hơn hai chất lỏng không hòa tan thì chất hoạt hóa bề mặt làm tăng diện tích tiếp xúc giữa hai chất lỏng đó.
  • Khi hòa chất nhũ hóa vào trong một chất lỏng thì các phân tử của chúng có xu hướng tạo đám (micelle), nồng độ  mà tại đó các phân tử bắt đầu tạo đám được gọi là nồng độ tạo đám tới hạn. Nếu chất lỏng là nước thì các phân tử sẽ nối đuôi kị nước lại với nhau và quay đầu ưa nước ra tạo nên những hình dạng khác nhau như hình cầu , hình trụ , màng.
  • Các chất cao phân tử hòa tan được trong pha liên tục và để tăng cường độ nhớt của pha này hoặc để được hấp thụ vào bề mặt liên pha.
  • Các chất không hòa tan và có mức độ phân chia rất nhỏ và có thể thấm ướt được bởi các hai pha, khi được hấp thụ vào bề mặt liên pha sẽ tạo ra vật chắn chống lại hiện tượng hợp giọt.

Ứng dụng của chất nhũ hóa trong sản xuất thực phẩm

Sản phẩm từ ngũ cốc

Đối với các bột hạt ngũ cốc, các chất nhũ tương không chỉ làm tăng tính chất của sản phẩm mà  làm thuận lợi hơn trong quá trình chế biến. Schuster và Adams (1984) đã nghiên cứu rất kỹ về cơ chế tác động của bánh khi cho chất ổn định vào trong quá trình sản xuất. Tác  động của các chất làm ổn định có nhiều mặt:

  • Làm tăng khả năng tạo các sản phẩm khác nhau của bột.
  • Tăng khả năng chịu khi phối trộn bằng cơ giới
  • Tăng khả năng giữ khí khi cho nấm men ít
  • Làm tăng khối lượng bánh
  • Tăng kích thước bề mặt, tăng cấu trúc vật lý.
  • Tăng khả năng bảo quản
  • Làm giảm lượng shortening
  • Tăng khả năng cắt mỏng

chất nhũ hoá trong ngũ cốc

Phần lớn các nhà nghiên cứu tập trung nghiên cứu tính chất của lecithin để ứng dụng trong sản xuất kinh doanh. Các tính chất đó bao gồm:

  • Làm tăng khả năng hấp thụ nước
  •  Giảm thời gian trộn
  • Làm tăng khả năng hoạt động của máy móc
  • Làm tăng thời gian bảo quản

Sản phẩm sữa – cream

Cream ở hai dạng lạnh hay dạng đông đặc do tính chất phụ gia nhũ tương. Protein và lecithin đã có tác dụng rất tốt đến chất lượng ổn định sản phẩm.

Các chất nhũ tương làm tăng phân tán của chất béo, khả năng tương tác giữa protein và chất béo, khả năng sấy, khả năng tạo hình, khả năng liên kết không khí, tăng khả năng phân tán (Flack, 1983, Walker, 1983). Ngoài ra các chất nhũ tương tăng màng protein xung quanh bọt khí trong cream.

Cream là hiện tượng nhũ tương dầu trong nước. Nhưng khi sử dụng monoglyceride thì cream lại trở thành trạng thái nhũ tương nước trong dầu( Berger, 1976). Các chất nhũ tương làm tăng khả năng tạo bọt, tăng khả năng định hình của cream khi làm lạnh, tạo độ cứng nhất định cho cream

Trong sản xuất cream, người ta thường sử dụng monoglyceride, ester polyoxyethylene sorbitan của acid béo. Hai chất nhũ tương này có hiệu quả nhất (Berger, 1986)

Ngoài ra, Flack (1985) cũng cho thấy ngoài monoglyceride xịn có thể sử dụng diglyceride, ester acid lactic của monoglyceride. Ester acid lactic của monoglyceride thường làm ổn định bọt trong cream.

chất nhũ hoá trong sữa cream

Sản xuất kẹo

Trong sản xuất kẹo, người ta sử dụng triglyceride (Amomymais 1983), Ester đường của acid béo, Ester sorbitan của acid béo.

Ester glycerol của acid béo ester propylene glycol của acid béo. Liều thường dùng khoảng 0,01-0,5% theo trọng lượng. Polyglycol được sử dụng để làm vỡ các loại kẹo (Herzing và Palamidis 1984)

chất nhũ hoá trong bánh kẹo

Sản xuất Mayonnaise tiệt trùng

Sản phẩm nhũ tương Mayonnaise  có thành phần cấu thành bao gồm dầu ăn, đường và muối, chất nhũ tương loại 1 và 2 và axit acetic hoặc dấm. Trọng lượng bao gồm: lượng Dầu ăn từ 55% tới 85%, đường tối thiểu 1%, muối ít nhất 0.5% và thành phần axit acetic hoặc dấm từ 0,1 đến 20% để nhũ tương có độ pH từ 2 đến 5.

Thành phần nhũ tương 1 bao gồm protein đậu nành, protein đậu, bột sữa không kem, bơ sữa và/hoặc cazein trong quá trình đun nóng có thể bị biến chất khoảng 70% và 80%. Thành phần nhũ tương 2 bao gồm monoglyceride, ethoxylate monoglyceride, polyoxyethylene sorbitan, glycerin,  axit béo monoester và axit béo diester. Sản phẩm nhũ tương được thực hiện bằng cách trộn nước, đường, muối và nhũ tương 1 và 2.

Hỗn hợp này sẽ được đun nóng để các protein trong hỗn hợp này bị biến đổi ở mức độ giữa 70% và 80%, để nguội, sau đó cho thêm axit axetic hoặc giấm để hóa hỗn hợp được làm lạnh, thêm dầu ăn vào hỗn hợp được hóa chua, sau đó làm đồng nhất sản phẩm chứa dầu.

chất nhũ hoá trong sốt mayonnaise

Hàm lượng sử dụng chất nhũ hóa ?

Hàm lượng qui định ADI (lượng tiêu thụ chấp nhận được hàng ngày mg/kg cơ thể) của đa số chất nhũ hóa là không giới hạn.

Để ổn định cấu trúc đạt được những đặc tính mong muốn về độ nhớt, hình dạng, vị và cấu trúc của sản phẩm thực phẩm người ta sử dụng chất nhũ hóa hay chất nhũ hóa chung với chất ổn định. Tuy nhiên chất nhũ hóa có liên quan đến sự an toàn sức khỏe của người tiêu dùng cho nên sử dụng những chất được công bố hợp quy, trong dang mục cho phép của BYT với một hàm lượng nhất định tùy vào loại sản phẩm thực phẩm.

Kỹ thuật sấy thực phẩm

Sấy là gì?

Sấy là một khâu quan trọng trong dây chuyền công nghệ, được sử dụng phổ biến ở nhiều ngành công nghiệp chế biến nông – lâm – hải sản. Sấy không chỉ đơn thuần là tách nước và hơi nước ra khỏi vật liệu mà là một quá trình công nghệ phức tạp, đòi hỏi vật liệu sau khi sấy phải đảm bảo chất lượng theo một chỉ tiêu nào đói với mức chi phí năng lượng (điện năng, nhiệt năng) tối thiểu. Để thực hiện quá trình sấy người ta sử dụng một hệ thống các thiết bị gồm thiết bị sấy như buồng sấy, hầm sấy, tháp sấy,..; thiết bị đốt nóng tác nhân sấy trong các calorifer, thiết bị lạnh để khử ẩm, bơm quạt và một số thiết bị phụ khác. Đương nhiên, trong hệ thống đó, thiết bị sấy là quan trọng nhất.

kỹ thuật sấy thực phẩm

Để đảm bảo chất lượng sản phẩm với mức chi phí năng lượng tối thiểu thì cần phải có chế độ sấy thích hợp. Chế độ sấy được hiểu là quy trình tổ chức quá trình trao đổi nhiệt – ẩm giữa tác nhân sấy và vật liệu sấy, độ ẩm trước và sau quá trình sấy của vật liệu sấy, nhiệt độ và độ ẩm của tác nhân sấy vào ra thiết bị sấy, thời gian sấy tương ứng,… Tóm lại, chế độ sấy rất quan trọng và luôn gắn với một hệ thống sấy cụ thể với một vật liệu sấy cụ thể. Do đó, khi thiết kế một hệ thống sấy để sấy một vật liệu sấy nào đó với năng suất đã cho, trước hết, phải chọn chế độ sấy thích hợp.

Vật liệu sấy chủ yếu là nông – lâm – hải sản có nhiều dạng khác nhau: từ củ như khoai, sắn; quả như vải, nhãn; con như tôm, cá đến các dạng huyền phù như sữa bò, sữa đậu nành. Phương pháp, kèm theo là thiết bị và chế độ sấy cho từng loại vật liệu sấy cụ thể cũng rất khác nhau. Vì vậy chúng ta cần phải xem xét một cách tổng quan cách phương pháp sấy và các loại thiết bị sấy thường gặp trong kỹ thuật sấy các loại thực phẩm.

Phân loại hệ thống sấy

Hệ thống sấy lạnh

Có thể phân loại hệ thống sấy lạnh theo 3 dạng: hệ thống sấy bơm nhiệt, sấy thăng hoa và sấy chân không.

Hệ thống sấy bơm nhiệt

Với hệ thống sấy này, tác nhân sấy thông thường là không khí trước hết được khử ẩm bằng phương pháp làm lạnh hoặc khử ẩm hấp phụ, sau đó được đưa đến nhiệt độ thích hợp rồi cho đi qua làm khô sản phẩm. Khí sấy sau khi qua buồng sấy sẽ bị giảm nhiệt và mang nhiều hơi nước từ sản phẩm thoát ra, phần khí này được đưa tới dàn lạnh để ngưng tụ hơi nước (làm khô không khí), tiếp theo sẽ đi qua dàn nóng để được làm nóng đến nhiệt độ sấy cần thiết và cuối cùng không khí khô nóng này sẽ đi qua buồng sấy tiếp tục sấy khô sản phẩm. Chu trình này diễn ra liên tục cho đến khi sản phẩm khô đạt yêu cầu máy sẽ ngừng hoạt động.

Hệ thống sấy bơm nhiệt

Hệ thống sấy thăng hoa

Trong hệ thống sấy này, nước ở dưới điểm ba thể (T<273oK (-15oC), p < 610Pa) nhận được nhiệt lượng thực hiện qua trình thăng hoa để nước chuyển trực tiếp từ thể rắn sang thể hơi và đi vào tác nhân sấy. Như vậy trong các hệ thống sấy thăng hoa, một mặt ta phải làm lạnh vật liệu sấy xuống dưới 0oC trong các kho lạnh và sau đó đưa vật liệu sấy với ẩm dưới dạng rắn vào bình thăng hoa. Ở đây vật liệu sấy được đốt nóng và đồng thời tạo chân không trong không gian xung quanh bằng bơm hút chân không.

Hệ thống sấy thăng hoa

Hệ thống sấy chân không

Sau khi cho sản phẩm sấy vào buồng sấy, bơm hút chân không hoạt động làm áp suất trong buồng sấy giảm xuống ngưỡng yêu cầu. Lúc này hệ thống nhiệt bắt đầu cấp nhiệt cho buồng sấy. Tại thời điểm này áp suất trong buồng sấy thấp nên chỉ cần cấp nhiệt từ 30 – 50oC là nước đã sôi, nước trong sản phẩm nhanh chóng hóa hơi khuếch tán ra ngoài. Khi hơi nước thoát ra khỏi sản phẩm sấy, áp suất trong buồng sấy tăng lên, lúc này hệ thống điều khiển cấp tín hiệu cho bơm hút chân không làm việc. Không khí mang nhiều hơi nước này được hút ra ngoài và được ngưng tụ hoàn toàn hơi nước trước khi đi vào máy hút chân không. Quá trình hút diễn ra liên tục cho đến khi sản phẩm được sấy khô.

Hệ thống sấy chân không

Hệ thống sấy nóng

Có thể phân làm ba loại dựa theo phương pháp đốt nóng vật: hệ thống sấy tiếp xúc, hệ thống sấy đối lưu và hệ thống sấy dùng điện trường dòng cao tần.

2.1 Hệ thống sấy tiếp xúc

Hệ thống sấy trong đó vật liệu sấy nhận nhiệt bằng cách tiếp xúc trực tiếp với bề mặt gia nhiệt. Bề mặt gia nhiệt là chất rắn (vách phẳng, vách trụ…). Chất tải nhiệt (hơi nóng hoặc khói lò) chuyển động ở phía bên kia của vách. Phía còn lại của vách tiếp xúc trực tiếp với vật liệu sấy.

Hệ thống tang trống (sấy trục lăn)

Hệ thống sấy đối lưu

Hệ thống sấy đối lưu là hệ thống sấy trong đó vật liệu sấy tiếp xúc trực tiếp với tác nhân sấy là không khí nóng, khói lò,…Dựa vào cấu tạo có thể phân thành nhiều loại sau:

Hệ thống sấy buồng
Gồm có tủ sấy, thiết bị sấy kiểu xe goong

Hệ thống sấy đối lưu

Hệ thống sấy hầm

Vật liệu sấy vào đầu này và ra đầu kia của hầm. Thiết bị truyền tải thường là các xe goong với các khay chứa vật liệu sấy hoặc băng tải.

Hệ thống sấy hầm

Hệ thống sấy tháp

Chuyên dùng để sấy vật liệu dạng hạt như ngô, thóc, lúa mì. Trong tháp sấy người ta đặt một loại các kênh dần xen kẽ với một loạt các kênh thải. Vật liệu sấy đi từ trên xuống và tác nhân sấy từ kênh dần xuyên qua vật liệu sấy thực hiện quá trình trao đổi nhiệt – ẩm với vật liệu sấy rồi đi vào kênh thải và thải vào môi trường.[/su_service]

Hệ thống sấy tháp

Hệ thống sấy thùng quay

Chuyên dùng để sấy vật liệu dạng cục, hạt. Khi thùng sấy quay, vật liệu sấy vừa dịch chuyển từ đầu này đến đầu kia vừa bị xáo trộn và thực hiện quá trình trao đổi nhiệt – ẩm với dòng tác nhân sấy.

 Hệ thống sấy thùng quay

Hệ thống sấy khí động

Thiết bị sấy có thể là một ống tròn hoặc phễu, trong đó tác nhân sấy có nhiệt độ thích hợp với tốc độ cao vừa làm nhiệm vụ trao đổi nhiệt – ẩm vừa làm nhiệm vụ đưa vật liệu sấy đi từ đầu này đến đầu kia của thiết bị sấy.

Hệ thống sấy khí động

 

Hệ thống sấy tầng sôi

Thiết bị sấy là một buồng sấy, trong đó vật liệu sấy nằm trên ghi có đục lỗ, chuyên dùng để sấy hạt. Tác nhân sấy có nhiệt độ và tốc độ thích hợp đi xuyên qua ghi và làm cho vật liệu sấy chuyển động bập bùng trên mặt ghi như hình ảnh các bọt nước sôi để thực hiện quá trình trao đổi nhiệt – ẩm. Hạt khô nhẹ  hơn sẽ nằm phía trên và được lấy ra một cách liên tục.[/su_service]

Hệ thống sấy tầng sôi

Hệ thống sấy phun

Dùng để sấy các dung dịch huyền phù như sữa bột. Dung dịch huyền phù được bơm cao áp đưa vào thiết bị tạo sương mù. Tác nhân sấy có nhiệt độ thích hợp đi vào thiết bị sấy thực hiện quá trình trao đổi nhiệt – ẩm với sương mù vật liệu sấy và thải ra môi trường. Do sản phẩm sấy ở dạng bột nên trong hệ thống sấy phun tác nhân sấy trước khi thải vào môi trường bao giờ cũng đi qua xyclon để thu hồi vật liệu sấy bay theo.

Hệ thống sấy phun

Hệ thống sấy dùng điện trường dòng cao tầng

Về nguyên lý chung, vật liệu sấy được đặt giữa hai bản tụ có điện áp tần số cao, dưới tác dụng của điện trường tần số cao, vật liệu được gia nhiệt và ẩm trong vật liệu hóa hơi thoát ra ngoài. Kiểu sấy này có ưu điểm hơn các kiểu sấy khác là nhiệt độ trong toàn bộ thể tích vật liệu đồng đều hơn, thích hợp với các vật liệu dày và có hình dáng phức tạp mà gia nhiệt bằng đối lưu hay tiếp xúc đều khó thực hiện.

Hệ thống sấy dùng điện trường dòng cao tần

  • Đối với những sản phẩm có giá trị cao bạn có thể sử dụng những máy sấy hiện đại dùng năng lượng điện, hơi nước, khí đốt hoặc nhiên liệu lỏng.
  • Đối với những sản phẩm rẻ tiền, giá trị thấp bạn có thể sử dụng các máy sấy đơn giản với nguồn nhiên liệu rẻ tiền.
  • Những máy sấy làm việc gián đoạn yêu cầu vốn cố định tương đối thấp, nhưng đòi hỏi nhiều người phục vụ, tiêu tốn năng lượng lớn. Những máy sấy làm việc liên tục thì ngược lại. Máy sấy chân không đòi hỏi vốn cố định và vốn lưu động cao hơn máy sấy làm việc ở áp suất thường, nhưng nó tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn.
  • Phương pháp sấy đắt nhất là sấy thăng hoa và sấy bằng điện trường cao tần. Các phương pháp này thường chỉ sử dụng đối với sản phẩm cao cấp, yêu cầu chất lượng đặc biệt.

Khái niệm và cơ chế chiếu xạ thực phẩm

Một số khái niệm về thực phẩm chiếu xạ

Thực phẩm chiếu xạ là cách thức tác động lên thực phẩm bằng tia ion hóa. Những tia có năng lượng cao đi xuyên qua sản phẩm, tiêu diệt hầu như tất cả vi khuẩn có hại và sinh vật kí sinh ở trên hay bên trong thực phẩm. Tất nhiên, phần thực phẩm còn lại chỉ trải qua những biến đổi hóa học không đáng kể.

Có ba lọai thực phẩm chiếu xạ: dùng tia gamma – chất đồng vị phóng xạ ( như 60Co) được chọn đặc trưng để tác động lên thực phẩm; tia electron – dùng trực tiếp dòng electron chiếu lên thực phẩm để tiêu diệt vi khuẩn; và tia X – tập trung một dòng eletron xuyên qua tấm kim loại mỏng để tạo ra tia X. Cả dòng electron và tia X đều được tạo ra từ máy có thể tắt được và không cần phải dùng bất kì chất phóng xạ nào (National Consumers League, 1701 K Street NW, Suite 1200 Washington, DC 2006).

chieu-xa-thuc-pham

Cơ chế chiếu xạ thực phẩm

Người ta sử dụng tia bức xạ gamma của chất phóng xạ Cobalt 60 hoặc của chất Cesium 137 để chiếu vào thực phẩm nhằm diệt vi trùng (thịt), vi sinh vật, sâu bọ, côn trùng và ký sinh trùng (lúa mì, bột, đồ gia vị, ngũ cốc, trái cây khô), làm chậm lại sự phát triển, làm chậm chín cũng như ngăn chặn sự nảy mầm ở các loại trái cây và củ hành… Phóng xạ tác động thẳng vào phần DNA tức là phần quyết định tính chất di truyền, làm tế bào không thể phân cắt được.

Thiết bị chiếu xạ hiện dùng để chiếu xạ thực phẩm thường sử dụng nguồn đồng vị phóng xạ (60Co hoặc 137Cs) hoặc tia X và các dòng electron được phát ra từ máy phát.

Chiếu xạ bằng dòng electron

Dòng electron chạy qua một điện trường với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng. Dòng electron như một tia xạ đặc biệt, có khả năng xuyên qua nhiều lớp tế bào hơn là các photon. Vì vậy dòng electron sẽ xuyên sâu vào thực phẩm chiếu xạ vài inch, điều này còn phụ thuộc vào độ dày của thực phẩm thực phẩm chiếu xạ. Bao quanh máy chiếu xạ electron là một tấm chắn bảo vệ bằng bê tông vững chắc, để bảo vệ không gây ảnh hưởng đến những công nhân làm việc ở đây.

Chiếu xạ bằng tia Gramma

Sử dụng Cobalt 60 là phương pháp thích hợp để chiếu xạ hầu hết các loại thực phẩm, là phương pháp phổ biến hiện nay, bởi vì chúng có khả năng xuyên sâu tốt, đồng thời chúng ta có thể kiểm soát được khả năng xuyên thấu nhờ các tấm đỡ pallet hay tole. Một pallet hoặc tole thường mất đi tác dụng bảo vệ từ vài phút đến vài giờ tùy thuộc vào lượng phóng xạ. Chất phóng xạ phải được theo dõi và chứa cẩn thận để bảo vệ nhân viên và môi trường khỏi tác hại của tia gamma từ chính chúng. Trong suốt quá trình hoạt động chiếu xạ diễn ra, các yếu tố trên được xem là tấm chắn an toàn bảo vệ. Hầu hết trong các thiết kế thì súng chiếu xạ đều hướng tia xạ vào một hồ chứa đầy nước, nước sẽ hấp thụ tia xạ, làm giảm tác hại tia xạ, dẫn chúng tới các tấm chắn xạ. Nước trong hồ này sẽ bị làm nóng lên do năng lượng của các tia xạ bị nước hấp thu. Có một cách thiết kế nữa để giảm sức mạnh của tia xạ là thiết kế các tấm chắn có khả năng giữ ẩm cao, tức các tâm chắn thường ẩm ướt, nhất là nơi các tia xạ tập trung vào. Tuy nhiên cách này không thông dụng. Có nhiều cách chiếu xạ gramma, 60Co được tiến hành hoàn toàn dưới môi trường nước. Và sản phẩm và quá trình chiếu xạ được tiến hành trong một chuông kín. Đặc điểm nổi trội phương pháp này là chúng ta không cần dùng các tấm chắn bảo vệ nữa.

Chiếu xạ bằng tia X

Tương tự như tia gramma, tia X cũng là hạt photon có quang phổ rộng, được sử dụng cơ bản trong chiếu xạ. Tia X được sinh ra do sự va chạm electron với một vật liệu đích như tantalum hay tungsten như đã biết các electron hơn mức cần thiết để sinh ra một lượng photon để chiếu xạ. Giống như các phương pháp vật liệu này đóng vai trò như cực dương trong dòng điện. Tia X cũng có khả năng xuyên thấu ngang bằng như 60Co. Với việc sử dụng các dòng electron sinh ra tia X, ta có thể ngưng quá trình chiếu xạ một cách dễ dàng bằng cách ngắt dòng điện. Tuy nhiên, quá trình này làm hao phí nhiều năng lượng vì cần dùng nhiều dòng khác, chiếu xạ bằng tia X cũng cần các tấm chắn để bảo vệ môi trường và những người làm việc trong môi trường chiếu xạ. Bình thường tia X được giới hạn trong khoảng 5MeV, ở Mỹ thì tiêu chuẩn cho phép cao hơn là 7.5 MeV. Ở các khu vực phát triển khác dòng điện cho phép có thể là 1000kW. Sức mạnh của tia X có thể đạt tới 100kW. Tương đương sức mạnh của tia Gramma 60Co khoảng 6.5 M Ci.s

Thiết bị chiếu xạ có thể là loại vận hành theo chế độ “xử lí liên tục” hoặc loại “xử lí theo mẻ”. Việc kiểm soát quá trình chiếu xạ thực phẩm tại tất cả các loại thiết bị gắn liền với việc sử dụng các phương pháp được chấp nhận để đo liều xạ hấp thụ và các phương pháp dùng để giám sát các thông số vật lí của quá trình này. Việc vận hành các thiết bị chiếu xạ thực phẩm phải tuân theo các khuyến nghị của CODEX về vệ sinh thực phẩm.

Các đồng vị phóng xạ được sử dụng để chiếu xạ thực phẩm phát ra các photon có năng lượng đặc trưng. Chất đồng vị được sử dụng làm nguồn phóng xạ hoàn toàn quyết định khả năng đâm xuyên của bức xạ phát ra. Hoạt động của nguồn được đo bằng đơn vị Becquerel (Bq) và phải được nhà cung cấp nguồn công bố. Hoạt động của nguồn phải được ghi đầy đủ và lưu giữ lại, có tính đến sự tự nhân ra của nguồn kèm theo ngày đo và tính kết quả. Các nguồn phóng xạ thường xuyên được bảo quản ở khu vực riêng biệt, được che chắn, bảo vệ an toàn và có tín hiệu báo chính xác vị trí hoạt động và bảo quản an toàn nguồn phóng xạ và được nối liên động với hệ thống vận chuyển sản phẩm. Nguồn bức xạ được sử dụng có thể là chùm electron hoặc chùm tia X được phát ra từ các máy phát thích hợp. Khả năng xuyên sâu của bức xạ được quy định bởi năng lượng của electron. Năng lượng trung bình chùm tia được ghi lại đầy đủ, có chỉ dẫn rõ ràng về việc thiết lập chính xác các thông số của máy. Các thông số này nối liền với nguồn và hệ thống vận chuyển sản phẩm. Tốc độ dịch chuyển của sản phẩm, độ rộng chiếu tia, tốc độ quét và tần số xung của chùm tia được điều chỉnh đảm bảo đồng đều liều xạ trên toàn bộ bề mặt sản phẩm.

Trước khi chiếu xạ thực phẩm thường tiến hành một số phép đo lường để kiểm chứng quy trình chiếu xạ sao cho đáp ứng yêu cầu. Hàng ngày, việc đo liều được thực hiện trong suốt quá trình vận hành chiếu xạ và được lưu lại.

Các khoa học gia khắp mọi nơi trên thế giới đều xác nhận rằng chiếu xạ thực phẩm là phương pháp rất an toàn vì chỉ sử dụng tia phóng xạ ở một cường độ thật thấp mà thôi. Cường độ 0.15 kGy có thể làm ngăn cản sự nẩy mầm của củ hành và của khoai tây. Cường độ từ 3 đến 7 kGy (kilo Gray) có thể diệt được vi khuẩn E.coli và vi khuẩn Salmonella. Nhờ sử dụng tia phóng xạ ở cường độ quá thấp, nên sản phẩm chiếu xạ sẽ không trở nên phát xạ (radioctive) được để gây hại đến sức khỏe của chúng ta. Các chất dinh dưỡng khác như protein, glucide và chất béo lipid cũng không mấy bị thay đổi. Hương vị có thể bị thay đổi ở một mức độ rất thấp không khác chi cho lắm nếu so sánh với các kỹ thuật hấp khử trùng bằng autoclave như thường được sử dụng từ xưa nay. Người ta đã giải quyết một phần điểm bất lợi nầy bằng cách áp dụng kỹ thuật vô bao trong chân không (vacuum packed), nghĩa là sau khi cho thịt vào trong bao, không khí liền được rút hết ra ngoài trước khi ép kín bao lại, và sau đó thì cho chiếu xạ sản phẩm.

www.foodnk.com

Hệ thống quy phạm vệ sinh SSOP cho nhà máy sản xuất nước giải khát đóng chai

Giới thiệu

Với tính kinh tế của mình, nước giải khát đóng chai có mức tiêu thụ lớn. Tuy nhiên, với việc xoay vòng tái sử dụng nhiều lần, chai thu gom từ nhiều nguồn khác nhau là một vấn đề cần được kiểm soát chặt chẽ vì đó chính là nguồn gốc của nhiều mối nguy có thể gây nhiễm bẩn nước. Mặt khác, tùy từng dây chuyền sản xuất, khả năng làm việc cũng khác nhau, điều đó có thể ảnh hưởng nhiều đến việc kiểm soát an toàn và chất lượng của sản phẩm.

Chính vì thế mà việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng HACCP cho dây chuyền sản xuất nước giải khát đóng chai là một việc làm hết sức cần thiết để đảm bảo không tồn tại một mối nguy nào gây hại đến sức khỏe của con người. Trong đó, quy phạm vệ sinh SSOP đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho hệ thống HACCP. Khi các quy trình vận hành tiêu chuẩn vệ sinh đã được hoàn chỉnh thì HACCP có thể hữu hiệu hơn bởi vì nó có thể tập trung vào những rủi ro liên quan đến thực phẩm hoặc việc chế biến thực phẩm.

Kết quả hình ảnh cho dây chuyền sản xuất nước giải khát đóng chai

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày 10 lĩnh vực cần xây dựng quy phạm vệ sinh SSOP cho nhà máy sản xuất nước giải khát đóng chai như sau:

SSOP 1: An toàn nước

Yêu cầu: Nước sử dụng trong thực phẩm, nước dùng tiếp xúc trực tiếp thực phẩm và các bề mặt tiếp xúc thực phẩm phải đảm bảo an toàn vệ sinh.

Nước an toàn phải đạt theo tiêu chuẩn 505/BYT, các tiêu chuẩn riêng của ngành hya tiêu chuẩn của nước nhập khẩu mặt hàng thực phẩm đó.

Nước có thể được lấy từ nguồn nước thủ cục hoặc tự khai thác từ giếng khoan. Đối với nguồn nước tự khai thác phải thiết lập một hệ thống xử lý hiệu quả, đa tầng. phải có kế hoạch kiểm tra chất lượng nước để đảm bảo nguồn nước sử dụng là an toàn.

Những nội dung của việc kiểm soát chất lượng nước:

  • Lập sơ đồ hệ thống cung cấp nước.
  • Kiểm soát hoạt động của hệ thống để duy trì tốt hoạt động của hệ thống xử lý, bảo vệ và ngăn ngừa nguồn nước khỏi nguy cơ nhiễm bẩn.
  • Kiểm tra chất lượng nước: lập kế hoạch và lấy mẫu kiểm nghiệm, xử lý các sự cố khi có kết quả.

SSOP 2: An toàn nguồn nước đá

Yêu cầu: Nước đá tiếp xúc với thực phẩm phải đảm bảo an toàn vệ sinh. Phải có kế hoạch kiểm soát chất lượng nước dùng sản xuất nước đá và điều kiện sản xuất bảo quản vận chuyển.

SSOP 3: Vệ sinh các bề mặt tiếp xúc với sản phẩm

Yêu cầu: Các bề mặt tiếp xúc thực phẩm phải đảm bảo không là nguồn lây nhiễm cho sản phẩm trong quá trình chế biến

Các bề mặt tiếp xúc với thực phẩm (kể cả vật liệu bao gói sản phẩm, găng tay, dụng cụ bảo hộ lao đông phải được làm từ các vật liệu và có cấu trúc thích hợp không chứa các hợp chất gây nhiễm bẩn thực phẩm.

Thiết lập các biện pháp kiểm soát việc vệ sinh và khử trùng các bề mặt tiếp xúc:

  • Làm vệ sinh và khử trùng với hóa chất, tác nhân thích hợp và theo quy định nhà nước (5/TĐC- QĐ), phương pháp thực hiện phù hợp đúng tần suất.
  • Bảo quản các bề mặt tiếp xúc thực phẩ, đúng cách và sử dụng đúng mục đích.
  • Có kế hoạch lấy mẫu kiểm tra việc làm vệ sinh và khử trùng.

SSOP 4: Ngăn ngừa sự nhiễm chéo

Yêu cầu: ngăn ngừa được sự nhiễm chéo từ những vật thể không sạch vào thực phẩm và các bề mặt tiếp xúc với sản phẩm.

Cần phân tích và nhận diện khả năng nhiễm chéo do: đường đi của sản phẩm, nước đá, bao bì phế liệu, công nhân, khách, …, việc lưu thông không khí và hệ thống nước thải.

Các yếu tố phải kiểm soát cho quy phạm này:

  • Sự lưu thông của nguyên liệu, sản phẩm, nước đá, phế liệu, công nhân, bao bì, …
  • Đối với các hoạt động, các khu vực có khả năng nhiễm chéo phải ngăn cách nghiêm ngặt (về không gian, thời gian) khi sản xuất các sản phẩm có độ rủi ro khác nhau và phân biệt các dụng cụ ở từng khu vực có độ sạch khác nhau.
  • Các hoạt động của công nhân (làm việc đúng vị trí và nhiệm vụ, giữ gìn vệ sinh, …).

SSOP 5: Vệ sinh cá nhân

Yêu cầu: công nhân phải đảm bảo vệ sinh cá nhân trước khi sản xuất

Để thực hiện tốt yêu cầu này, hiện trạng hệ thống rửa và khử trùng tay, phòng thay đồ bảo hộ lao động, nhà vệ sinh phải duy trì trong điều kiện tốt như đã đề cập trong chương trình GMP, xây dựng các quy định về hoạt động vệ sinh cá nhân.

Xây dựng các thủ tục về:

  • Hoạt động bảo trì và kiểm tra tình trạng hoạt động thực tế các điều kiện phục vụ vệ sinh.
  • Quản lý và sử dụng đồ bảo hộ lao động.
  • Thực hiện rửa và khử trùng tay, vệ sinh.
  • Lấy mẫu kiểm chứng hiệu quả việc thực hiện vệ sinh.

Kiểm tra vệ sinh hàng ngày và lưu hồ sơ.

SSOP 6: Bảo vệ các sản phẩm tránh các tác nhân lây nhiễm

Yêu cầu: không để thực phẩm, bao bì và các bề mặt tiếp xúc với thực phẩm bị nhiễm bẩn bởi các tác nhân gây nhiễm.

Đối với quy phạm này, cần xem xét các yếu tố như sự ngưng tụ hơi nước ở các cấu trúc phía trên sản phẩm, khả năng kiểm soát vệ sinh của các bề mặt không tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm, khả năng ảnh hưởng của chất độc hại như dầu bôi trơn, hóa chất… và các hoạt động có khả năng tạo sự lây nhiễm.

Xây dựng các thủ tục về hoạt động bảo trì thiết bị, thực hiện và kiểm soát việc làm vệ sinh, lấy mẫu kiểm tra, lưu hồ sơ việc kiểm soát vệ sinh hàng ngày.

SSOP 7: Sử dụng và bảo quản hóa chất độc hại

Yêu cầu: đảm bảo việc sử dụng và bảo quản hóa chất để không gây hại cho sản phẩm.

Kho bảo quản hóa chất phải được xây dựng tách biệt dây chuyền sản xuất, các quy định được sử dụng hướng dẫn cho người có liên quan và thi hành nghiêm túc.

Xây dựng các thủ tục như sau:

  • Lập danh mục các hóa chất sử dụng
  • Các điều kiện bảo quản vận chuyển, các dụng cụ chứa đựng và ghi nhãn cho từng loại hóa chất
  • Đào tạo về cách sử dụng và phân công người chuyên trách

Xây dựng hệ thống hồ sơ các danh mục hóa chất, theo dõi việc nhập xuất và sử dụng.

SSOP 8: Kiểm soát sức khỏe công nhân

Yêu cầu: đảm bảo công nhân không là nguồn lây nhiễm thực phẩm

Phải thành lập phòng y tế tại nơi cơ sở sản xuất, thực hiện các chế độ kiểm tra sức khỏe cho nhân viên theo định kỳ và đủ các điều kiện khám bệnh thông thường.

Cần thực hiện các thủ tục sau:

  • Kiểm tra sức khỏe định kỳ.
  • Kiểm tra hàng ngày: thông tin nhắc nhở việc giữ gìn sức khỏe và vệ sinh cho mọi người, kiểm soát sức khỏe vệ sinh trước khi vào trong quá trình sản xuất.

Lập hệ thống hồ sơ giám sát: theo dõi vệ sinh hàng ngày, cấp phiếu kiểm tra sức khỏe ban đầu và định kỳ, các trường hợp bệnh lý và biện pháp xử lý.

SSOP 9: Kiểm soát sinh vật gây hại

Yêu cầu: phải ngăn ngừa và tiêu diệt hiệu quả sinh vật gây hại

Cơ sở sản xuất phải được trang bị đầy đủ hệ thống ngăn chặn động vật gây hại (màn, lưới chắn, …) và các biện pháp tiêu diệt, xử lý sự xâm nhập của chúng.

Xây dựng hệ thống thủ tục:

  • Bảo trì tốt hệ thống chống sự xâm nhập và tiêu diệt côn trùng gây hại.
  • Loại bỏ các khu vực dẫn dụ hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho động vật gây hại kiếm ăn, sinh sản hoặc ẩn náu.
  • Lập sơ đồ và kế hoạch đặt bẫy, bã và kế hoạch phun thuốc diệt côn trùng.
  • Thực hiện các kế hoạch trên mà không làm ảnh hưởng đến sản xuất, nhiễm bẩn thực phẩm.

Lưu giữ hồ sơ các sơ đồ kế hoạch đặt bẫy, bã và theo dõi việc ngăn chặn và tiêu diệt vi sinh vật gây hại.

SSOP 10: Kiểm soát chất thải

Yêu cầu: hoạt động thu gom, xử lý chất thải không gây nhiễm bẩn cho sản phẩm.

Đối với chất thải rắn: có thủ tục thu gom, vận chuyển, chứa đựng phế liệu:

  • Đảm bảo phù hợp với từng loại phế liệu và mục đích sử dụng của dụng cụ.
  • Tần suất và thao tác việc thu gom chất thải rắn phải không làm ảnh hưởng đến công việc sản xuất và nhiễm bẩn vào thực phẩm.
  • Người thực hiện được đào tạo huấn luyện kỹ càng về công việc.

Đối với chất thải lỏng:

  • Kiểm soát hoạt động của hệ thống thoát nước và xử lý nước thải của nhà máy chắc chắn hiệu quả đủ năng lực giải quyết hoàn toàn lượng nước thải và không làm ô nhiễm môi trường.
  • Làm vệ sinh và bảo trì thường xuyên hệ thống.
  • Kiểm soát sự chảy ngược.
  • Đảm bảo hệ thống xử lý nước thải không gây nhiễm vào sản phẩm.

Hình thức của quy phạm vệ sinh SSOP:

Một quy phạm SSOP được thể hiện dưới dạng văn bản và gồm 4 phần:

  • Yêu cầu (hay mục tiêu).
  • Điều kiện hiện có của doanh nghiệp.
  • Các thủ tục cần thực hiện.
  • Phân công thực hiện và giám sát.

Mỗi quy phạm phải được phê duyệt bởi người có thẩm quyền.

Tuỳ theo mỗi cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm, nội dung của SSOP có thể khác nhau. Hoặc phải kiểm soát đầy đủ các lĩnh vực đảm bảo vệ sinh an toàn như trên hoặc chỉ kiểm soát một số lĩnh vực (ví dụ ở cơ sở không cần sử dụng nước đá hoặc hoá chất…), hoặc phải xây dựng SSOP cho một số lĩnh vực khác.

Theo FOSI

Những biển đổi thành phần của sữa và cách bảo quản sữa hiệu quả nhất

Những biển đổi thành phần của sữa khi bảo quản

Chất béo và protein sữa bị thay đổi hóa học trong quá trình bảo quản. Những thay đổi này có 2 dạng: sự ôi hóa và sự phân giải lipit. Sản phẩm tạo nên có mùi khó chịu và thường xảy ra đối với bơ sữa và bơ.

Sự ôi hóa chất béo: xảy ra tại các nối đôi của các acid béo không no tạo nên mùi kim loại, trong đó lecithin là chất dễ tấn công nhất.

Sự ôi hóa protein: do sự ôi hóa amino acid dưới tác dụng của ánh sáng, gây ra mùi khó chịu. Chỉ một vài phút để dưới ánh sáng cũng đủ gây ra phản ứng này, do đó sữa không nên để trực tiếp dưới ánh sáng.

Sự phân giải lipit: là sự phân cắt chất béo thành glycerol và acid béo, tạo mùi vị chua, mùi này gây ra bởi sự hiện diện của các acid béo tự do thấp phân tử. Sự phân cắt này tạo ra dưới tác dụng của enzim lipaza. Tuy nhiên quá trình này không xảy ra cho đến khi lớp màng của hạt béo bị phá hủy và chất béo bị lộ ra. Trong công nghệ sữa sự phá hủy màng rất dễ xảy ra dưới tác dụng cơ học như: bơm, khuấy, đánh sữa… Để tránh xảy ra quá trình này sữa nên được thanh trùng ở nhiệt độ cao để phân hủy enzim lipaza.

Ảnh hưởng của xử lý nhiệt lên các thành phần hóa học của sữa

Chất béo:  chất béo không bị ảnh hưởng ở nhiệt độ dưới 1000C. Sự kết tụ các hạt béo xảy ra ở nhiệt độ cao. Sự phân tách chất béo bị giảm nếu sữa bị gia nhiệt cao hơn 750C.

Protein: Casein không thấy bị thay đổi ở nhiệt độ dưới 1000C, nhưng rất dễ thấy sự biến đổi của casein micelle khi nhiệt độ của sữa trên 650C. Protein dịch sữa bị biến tính ở nhiệt độ trên 650C và hầu như bị biến tính hoàn toàn ở nhiệt độ

900C trong 60 phút. Vài protein có thể khôi phục một phần tính chất của nó trong thời gian lưu trữ vài ngày hoặc vài tuần sau khi bị xử lý nhiệt. Sau khi xử lý nhiệt ở nhiệt độ 750C và lưu nhiệt ở đó trong một phút hoặc ít hơn sữa bắt đầu có mùi nấu, đó là do sự giải phóng hợp chất chứa sulphur từ -lactoglobulin và các protein chứa sunphur khác.

Enzim: các enzim bị vô hoạt bởi nhiệt. Nhiệt độ vô hoạt phụ thuộc kiểu enzim.

Vitamin: vitamin C rất nhạy với nhiệt độ, đặc biệt là khi có mặt của không khí  và kim loại. Thanh trùng nhiệt độ cao trong thời gian ngắn trong thiết bị trao đổi nhiệt dạng đĩa hầu như không làm mất vitamin C. Vitamin khác chịu ảnh hưởng hoặc không bị ảnh hưởng dưới sự xử lý nhiệt vừa phải.

Lactose: ở nhiệt độ cao trên 1000C lactose phản ứng với protein gây ra màu nâu của sữa(công nghệ sản xuất sữa đặc có đường và sữa chua)

Các phương pháp bảo quản sữa

Sữa sau khi vắt, lượng vi sinh vật thay đổi khá nhiều. Bản thân sữa còn chứa nhiều hệ enzim xúc tác cho các phản ứng sinh hóa làm giảm giá trị của sữa. Để hạn chế sữa bị giảm chất lượng, người ta tiến hành bảo quản sữa bằng nhiều phương pháp khác nhau ở điều kiện thích hợp như là:

– Phương pháp vật lý: làm lạnh, đun nóng.

– Phương pháp hóa học: dùng một số hóa chất để tiêu diệt hoặc ức chế sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật.

– Phương pháp sinh học: chủ yếu nhờ quá trình lên men lactic để ức chế sự phát triển của vi sinh vật khác

Đối với phương pháp vật lý xử lý nhiệt, để kéo dài thời gian bảo quản thông thường có 2 phương pháp chính đó là thanh trùng và tiệt trùng. Vậy 2 phương pháp này có gì khác nhau? Mời các bạn tìm hiểu nhé!

  1. Quy trình sản xuất sữa thanh trùng
  2. Quy trình sản xuất sữa tiệt trùng

 

Ban biên tập IFOOD

Thực chất trong nước giải khát có gas bao gồm những thành phần nào?

Nền công nghiệp nước giải khát hiện nay có thể nói là đã phát triển vượt bậc, khi các loại nước ngọt có ga trở nên cực kỳ phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Thậm chí, dù có nhiều nghiên cứu chứng minh tác hại của nước giải khát như gây thừa cân, tăng khả năng mắc các bệnh về tim mạch, cũng không thể ngăn được vị thế thống trị của các hãng nước giải khát hiện nay.

Thông qua bài viết dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích và làm rõ các vấn đề liên quan đến dòng sản phẩm này, bao gồm: Nguồn gốc ra đời, thành phần hóa học, quy trình sản xuất nước giải khát có gas, nhằm giúp Quý doanh nghiệp có cơ sở để mở rộng và phát triển dòng sản phẩm tiềm năng này.

Nguồn gốc hình thành các loại nước ngọt có gas

Vào cuối những năm 1700, người châu Âu và người Mỹ bắt đầu uống nước khoáng vì những lợi ích nổi tiếng của loại nước này. Các loại nước bắt chước thành phần tự nhiên của nước khoáng được Mỹ cấp bằng sáng chế lần đầu tiên vào năm 1809. Nó được gọi là “nước soda”, với thành phần bao gồm nước và natri bicarbonate trộn với axit để sủi sủi bọt. Các dược sĩ tại Mỹ và châu Âu đã thử nghiệm nước khoáng với hy vọng tìm được những phương thuốc mới chữa nhiều bệnh khác nhau. Các loại nước soda từng được ca ngợi là thuốc bổ não, chữa nhức đầu, các chứng bệnh đau thần kinh.

Loại nước soda trở nên phổ biến không chỉ vì lợi ích chữa bệnh mà còn vì hương vị mang lại cảm giác làm mới của nó. Thị trường nước soda đã mở rộng vào những năm 1830 khi lần đầu tiên nước soda được bán dưới dạng đóng chai. Cho đến năm 1850, việc rót đầy và đóng nắp loại chất lỏng có ga này rồi cho vào các container vẫn là một quá trình khó khăn. Sau đó, một loại máy đóng nút được thiết kế. Thuật ngữ “soda pop” xuất hiện từ những năm 1860, nhại theo âm thanh thoát khí khi một chai nước ngọt được mở ra.

Các hương vị soda mới liên tục xuất hiện trên thị trường. Có một số hương vị phổ biến như gừng, ngũ gia bì, bia, chanh, và các hương vị trái cây khác. Năm 1886, một dược sĩ Atlanta, John Pemberton, đã kết hợp coca với cola, và tạo thành thức uống nổi tiếng nhất thế giới, “Coca-Cola”. Nước giải khát được quảng cáo mang lại tinh thần sảng khoái cũng như tác dụng chữa bệnh.

Một vài năm sau, một dược sĩ khác là Caleb Bradham, đã tạo ra “Pepsi-Cola” ở Bắc Carolina. Mặc dù cái tên gọi “Pepsi-Cola” bắt nguồn từ pepsin, một loại axit nhằm hỗ trợ tiêu hóa, Pepsi không quảng cáo như một loại nước giải khát là có lợi ích điều trị. Vào những năm đầu thế kỷ 20, hầu hết các công ty cola tập trung quảng cáo sản phảm của họ trên tác dụng làm mới mẻ, sảng khoái tinh thần.

Khi các loại đồ uống có ga trở nên phổ biến, các nhà sản xuất cố gắng tìm ra một tên thích hợp cho các loại đồ uống. Một số gợi ý như “nước đá”, “nước xi-rô”, và “nước có ga”. Tuy nhiên, tên hấp dẫn nhất là “nước ngọt”, đúng với hy vọng rằng cuối cùng nước giải khát sẽ qua mặt thị trường “rượu mạnh”. Mặc dù ý tưởng đó không bao giờ đạt được song nước ngọt đã làm nên thành công riêng.

Mãi đến những năm 1890, nước ngọt vẫn được sản xuất thủ công, từ khâu thổi thủy tinh để tạo ra chai, cho vào chai đến khâu đóng gói. Trong suốt hai thập kỷ sau, máy móc tự động đã tăng hiệu quả năng suất của các nhà máy nước giải khát lên rất lớn. Có lẽ sự phát triển quan trọng nhất trong công nghệ đóng chai là vào năm 1892, các chai thủy tinh đã chứa được khí carbon dioxide.

Sự ra đời của các loại xe động cơ tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp nước giải khát. Máy bán hàng tự động, nước giải khát được phục vụ trong cốc, đã trở thành dịch vụ phổ biến trên toàn nước Mỹ. Vào cuối những năm 1950, lon nước giải khát bằng nhôm đã được giới thiệu, trang bị phần mở kéo hiện đại. Đến những năm 1970, loại chai nhựa nhẹ và bền xuất hiện, mặc dù cho đến năm 1991, ngành công nghiệp nước giải khát mới sử dụng chai nhựa PET (polyethylene terephthalate) trên quy mô rộng.

Các nhà sản xuất nước ngọt nhanh chóng đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng. Năm 1962, nước cola dành cho người có chế độ ăn kiêng đã được giới thiệu để đáp ứng gu thời trang “mình dây” cho phụ nữ. Trong những năm 1980, ý thức về sức khỏe ngày càng tăng, vì thế nước ngọt chứa ít natri và không có caffeine đã ra đời. Đến những năm 1990, đi theo thị hiếu, nước cola đã không màu, không caffeine và không chất bảo quản.

Các thành phần chính của nước ngọt

Nước có ga chiếm đến 94% thành phần của nước ngọt. Carbon dioxide giúp bổ sung các bọt sủi lấp lánh và đồng thời có vai trò như một chất bảo quản nhẹ. Carbon dioxide là chất khí duy nhất thích hợp với nước ngọt vì nó trơ, không độc hại, và tương đối rẻ tiền cũng như dễ hóa lỏng.

Thành phần chính thứ hai là đường, chiếm 7-12%. Được sử dụng theo dạng khô hoặc lỏng, đường tạo vị ngọt và tăng cường cảm giác ngon ngọt, điều rất quan trọng để người tiêu dùng hưởng thụ các loại nước giải khát. Đường cũng giúp cân bằng các hương vị và axit.

Sự ra đời của nước ngọt không đường bắt nguồn từ việc đường bị khan hiếm trong chiến tranh thế giới thứ 2. Các nhà sản xuất nước giải khát phải sử dụng loại chất ngọt cường độ cao, chủ yếu là saccharin. Vào những năm 1970, chất saccharin đã bị loại bỏ vì nó bị tuyên bố là một chất gây ung thư tiềm năng. Các chất thay thế đường được giới thiệu, và thành công hơn, đặc biệt là aspartame, hoặc Nutra-Sweet, được sử dụng rộng rãi trong suốt những năm 1980 và 1990 cho các loại nước giải khát dành cho người ăn kiêng. Do một số chất làm ngọt cường độ cao không mang lại cảm giác ngon miệng và dư vị của đường, nên chúng thường được kết hợp với đường và các chất ngọt khác cũng như hương vị để cải thiện chất lượng nước giải khát.

Hương vị tổng thể của nước ngọt phụ thuộc vào sự cân bằng tinh tế của vị ngọt, vị chua và độ pH. Axit làm tăng độ sắc nét cho hương vị nền và nâng cao trải nghiệm bật tan cơn khát bằng cách kích thích tiết nước bọt. Các acid phổ biến nhất trong nước giải khát là axit citric, có hương vị chanh. Axit cũng làm giảm độ pH, giúp bảo quản thức uống.

Ngoài ra, nước ngọt còn chứa một số lượng rất nhỏ các chất phụ gia khác nhằm tăng cường hương vị, cảm giác ngon miệng. Hương vị được chế tạo theo nhiều cách khác nhau, chúng có thể là xuất phát từ tự nhiên, hoặc là những chất hóa học được chế biến để giống hệt như hương liệu tự nhiên, hoặc là hương liệu nhân tạo (hoàn toàn là các chất hóa học và không liên quan gì đến hương vị tự nhiên). Nhũ tương được cho vào nước ngọt chủ yếu để tăng cường “sức hấp dẫn với mắt, đó là hỗn hợp của các chất lỏng hầu như không tương thích với nhau. Chúng bao gồm các yếu tố dựa trên nước, như chất gôm, pectin, và chất bảo quản; các chất lỏng dựa trên dầu, chẳng hạn như mùi vị, màu sắc. Chất saponin tăng cường sủi bọt trong nước ngọt.

Để ngăn các vi sinh vật phát triển và chống hư hỏng, chất bảo quản được cho vào nước ngọt. Các chất chống oxy hóa, chẳng hạn như BHA và acid ascorbic, giúp duy trì màu sắc và hương vị. Bắt đầu từ những năm 1980, các nhà sản xuất nước giải khát đã chọn dùng phụ gia tự nhiên trước những lo ngại về sức khỏe của công chúng.

Nước ngọt được sản xuất như thế nào?

Hầu hết nước ngọt được sản xuất tại các công ty đóng chai địa phương. Các hãng nước ngọt có thương hiệu đã cấp giấy phép cho các nhà sản xuất đóng chai để pha trộn nước ngọt theo đúng công thức bí mật của họ và đáp ứng quy trình sản xuất theo yêu cầu.

Chất lượng nước rất quan trọng cho sự thành công của một loại nước giải khát. Các tạp chất, chẳng hạn như các hạt lơ lửng, chất hữu cơ, vi khuẩn, có thể làm suy giảm hương vị và màu sắc sản phẩm. Những tạp chất này được loại bỏ qua quá trình làm đông, lọc và khử trùng bằng clo.

Sau đó, nước được đổ qua một bộ lọc cát để loại bỏ các tạp chất còn lại. Khâu khử trùng nước rất cần thiết để diệt mọi loại vi khuẩn và hợp chất hữu cơ có thể làm hỏng màu sắc hoặc mùi vị của nước. Nước được bơm vào một bể chứa và được bổ sung một lượng nhỏ clo. Nước clo được lưu trữ trong bể khoảng 2 giờ cho đến khi phản ứng hoàn tất.

Tiếp theo, bộ lọc than hoạt tính sẽ khử clo trong nước và loại bỏ các chất hữu cơ còn lại, giống như bộ lọc cát.

Hòa trộn các thành phần

Đường hòa tan và hương vị đậm đặc được bơm theo đúng liều lượng tùy theo độ tương thích của chúng. Các thành phần dùng để sản xuất nước ngọt được đưa vào bồn, ở đó chúng sẽ được hòa trộn cẩn thận. Xi-rô có thể được tiệt trùng ngay trong bể chứa, bằng tia cực tím hoặc đèn flash thanh trùng, quá trình này liên quan đến việc làm nóng và lạnh hỗn hợp hòa trộn này. Xi-rô hoa quả thường phải được tiệt trùng kỹ.

Nước và xi-rô được kết hợp với nhau một cách cẩn thận bằng các loại máy tinh vi, được gọi là proportioners, trong đó quy định tỷ lệ lưu lượng và tỷ lệ các chất lỏng.

Trung hòa nước giải khát

Cacbonat thường được cho vào thành phẩm, mặc dù người ta có thể trộn lẫn cacbonat vào nước ở giai đoạn trước đó. Nhiệt độ của chất lỏng phải được kiểm soát cẩn thận vì độ hòa tan của carbon dioxide tăng lên khi giảm nhiệt độ chất lỏng. Số lượng carbon dioxide được sử dụng phụ thuộc vào từng loại nước giải khát. Ví dụ, nước trái cây cần ít cacbonat hơn.

Đóng chai và đóng gói

Sản phẩm cuối cùng được đưa vào trong chai hoặc lon. Các container được ngay lập tức niêm phong chặt chẽ. Do nước ngọt thường được làm mát trong quá trình sản xuất, chúng phải được đưa về nhiệt độ phòng trước khi ghi nhãn để ngăn chặn sự ngưng tụ gây hư hỏng nhãn. Điều này thường được thực hiện bằng cách phun nước ấm lên container và làm khô chúng. Nhãn sau đó được gắn lên với chai, cung cấp các thông tin về thương hiệu, thành phần, thời hạn sử dụng, và cách sử dụng an toàn sản phẩm. Hầu hết nhãn được làm bằng giấy mặc dù một số nhãn được làm bằng phim nhựa. Cuối cùng, các chai, lon nước ngọt sẽ được đóng gói vào thùng carton hoặc khay và sau đó được vận chuyển đến các nhà phân phối.

Quản lý chất lượng nước ngọt như thế nào?

Các nhà sản xuất nước giải khát tuân thủ nghiêm ngặt mọi tiêu chuẩn chất lượng nước, đối với chất rắn hòa tan, độ kiềm, clorua, sunfat, sắt và nhôm. Đây không chỉ là vì lợi ích của y tế công cộng, nhưng nước sạch cũng giúp duy trì chất lượng và tính nhất quán trong hương vị, màu sắc của sản phẩm. Các cuộc kiểm tra, thử nghiệm sản phẩm thường xuyên diễn ra. Hiệp hội nước ngọt quốc gia và nhiều cơ quan khác đặt ra các tiêu chuẩn để kiểm soát chất lượng đường và các thành phần khác.

Một điều rất quan trọng là các nhà sản xuất nước ngọt phải giám sát các nguyên liệu thô trước khi chúng được trộn lẫn với các thành phần khác. Tất cả các thùng, bể chứa, bơm được tiệt trùng kỹ lương và liên tục được giám sát. Nhà sản xuất cũng phải khuyến cáo điều kiện lưu trữ cụ thể cho nhà bán lẻ. Thời hạn sử dụng của các loại nước ngọt thường ít nhất là 1 năm.

Tái chế

Vào đầu những năm 1990, ngành công nghiệp nước giải khát trị giá 27 tỷ USD tạo ra khoảng 110 tỷ thùng nước mỗi năm. Khoảng một nửa số thùng này là loại lon nhôm, và một nửa nữa là chai nhựa PET. Gần 60% container nước ngọt được tái chế, tỷ lệ cao nhất của ngành đóng gói tại Mỹ. Những lo ngại về môi trường tiếp tục buộc công nghệ đóng gói được cải thiện và sáng tạo, trong đó có việc phát triển loại chai có thể sử dụng lại.

Tương lai

Trong những năm 1990 đã có hơn 450 loại nước giải khát trên thị trường và các loại hương vị, chất ngọt mới được phát triển để đáp ứng nhu cầu. Trong tương lai, các công nghệ tiên tiến sẽ mang lại hiệu quả cao hơn cho việc sản xuất nước ngọt ở mọi khâu, như lọc nước, khử trùng, thanh trùng. Các công nghệ này sẽ cải thiện sản xuất và giảm thiểu nhu cầu sử dụng chất bảo quản trong nước ngọt. Mối quan tâm về sức khỏe, sự an toàn cho người tiêu dùng và môi trường sẽ tiếp tục tác động tích cực lên ngành công nghiệp nước giải khát.

Ban biên tập IFOOD

Tham khảo tại nguồn http://www.madehow.com/Volume-2/Soft-Drink.html

Nguyên tắc bố trí thiết bị trong phân xưởng

Có thể nói việc bố trí thiết bị là một trong những giai ñoạn quan trọng nhất của quá trình thiết kế. Nó ñòi hỏi phải có nhiều tích luỹ thực tế, kiến thức lý thuyết và có nhiều sáng tạo. Bố trí hợp lý sẽ tạo ra năng suất, nhịp độ sản xuất nhanh hơn, tận dụng tối đa các nguồn lực vào sản xuất nhằm thực hiện những mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngược lại, nếu bố trí không hợp lý có thể làm tăng chi phí, thời gian di chuyển kéo dài,… làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu phải sắp xếp bố trí lại mặt bằng sẽ dẫn đến hao phí về tiền và thời gian của doanh nghiệp, tạo tâm lý không tốt, gây ảnh hưởng xấu đến năng suất lao động. Vì vậy cần phải nghiên cứu kỹ càng, phân tích và lựa chọn phương án bố trí hợp lý ngay từ ban đầu.

Nguyên tắc bố trí thiết bị trong phân xưởng

Việc bố trí thiết bị trong phân xưởng có liên quan đến nhiều vấn đề:

  • Công nghệ
  • Thao tác vận hành, sửa chữa
  • Thông gió, ánh sáng tự nhiên
  • Mỹ quan: sắp xếp gọn gàng, màu sắc hài hoà, thông thoáng

Các máy móc, thiết bị phải được xếp đặt một cách liên tục theo đúng qui trình công nghệ. Máy này nối tiếp máy kia một cách hợp lý, đường đi không được cắt nhau hoặc bố trí theo đường xoắn ốc. Các dây chuyền phức tạp, dài có thể bố trí theo đường zích – zắc, dây chuyền đơn giản thì bố trí theo đường thẳng.

Nguyên tắc bố trí thiết bị trong phân xưởng

– Tuỳ thuộc vào nguyên liệu, dây chuyền có thể bố trí trên một tầng hoặc nhiều tầng.

– Tìm cách giảm thiểu các loại thiết bị vận chuyển : gàu tải, vít tải, băng tải, bơm. → Giảm khoảng cách giữa các máy giúp rút ngắn thời gian, chu trình sản xuất.

– Đảm bảo khoảng cách giữa các thiết bị với thiết bị, giữa thiết bị với tường, để dễ thao tác, dễ sửa chữa và thay thế.

– Các thiết bị có cùng chức năng thường đặt thành một cụm (rây, sàng, …)

– Tất cả các thiết bị phải có hệ thống nối đất để tránh tình trạng tích điện trên thiết bị.

– Các cầu thang phải có tay vịn, các nhà nhiều tầng ở phía ngoài phải có cầu thang thoát hiểm.

– Các bộ phận chuyển động của các máy, thiết bị phải có tấm che.

– Những máy, thiết bị có trọng lượng lớn, rung động mạnh ở tầng dưới, máy nhẹ đặt ở tầng trên, máy cao cần đặt ở giữa, thấp đặt gần cửa → Lợi dụng thông gió và ánh sáng tự nhiên.

– Những thiết bị nóng, thoát nhiều bụi, chất độc hại phải có tường ngăn cách hoặc thông thoáng tốt.

– Những thiết bị áp lực phải có áp kế và van an toàn.

– Các thiết bị có cửa quan sát hoặc kính quan sát (thiết bị cô đặc, nấu) thì phải xếp kính quan sát quay ra ngoài.

– Hệ thống điều khiển, cần gạt, tay gạt phải bố trí ngang tầm tay công nhân (0.8 – 1.2m).

– Phải chừa khoảng cách hợp lý giữa các thiết bị, lối đi dọc, đi ngang, lối đi gần tường để công nhân hoạt động thuận lợi, tránh tai nạn, dễ thay thế thiết bị.

– Các dây chuyền thiết bị thường được bố trí song song với nhau để đảm bảo an toàn và có đủ chỗ cho công nhân di chuyển.

– Khoảng tố cách tối thiểu giữa hai thiết bị lớn nhất là 1.8m, an toàn nhất là 3 – 4 m. Khoảng cách trống giữa hai dãy máy phải trên 1,8 m; trường hợp cần xe qua lại thì khoảng cách này phải trên 3 m. Ở những vị trí cần thiết có thể chừa lối đi lại khoảng 0,8 m đến 1 m.

– Những thiết bị đặt sâu xuống ñất như thùng chứa, nồi thanh trùng … phải có nắp đậy kín hoặc có thành cao so với nền nhà là 0,8 m.

– Các dây chuyền phải đặt cách tường tối thiểu 1.6m

– Thiết bị đầu vào phải cách tường 2 – 3m.

Trên đây là những nguyên tắc chung để bố trí thiết bị trong nhà máy. Tuy nhiên, tùy thuộc vào quy trình sản xuất, mặt bằng phân xưởng và thực tế thi công mới có thể xác định chính xác vị trí từng thiết bị trong phân xưởng.

Hướng dẫn thiết kế quy trình công nghệ sản xuất thực phẩm

Công nghệ là tập hợp các yếu tố phần cứng (máy móc, thiết bị) với tư cách là những yếu tố hữu hình và phần mềm (phương pháp, bí quyết, kỹ năng, quy trình,…) với tư cách là những yếu tố vô hình.

Hiện nay, cùng với nguồn nhân lực, công nghệ được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Năng lực công nghệ ngày càng trở thành yếu tố quyết định đến khả năng cạnh tranh của mọi doanh nghiệp trên thị trường.

Việc thiết kế công nghệ bao gồm cải tiến các công nghệ hiện có và thiết kế các công nghệ mới. Trong đó thiết kế các công nghệ mới thường phức tạp mà không phải doanh nghiệp nào cũng có thể làm được.

Mô hình hệ thống hoá khái niệm công nghệ

quy trình công nghệ sản xuất thực phẩm

Công nghệ có bốn yếu tố chính:

  • Nguyên liệu: đặc điểm của nguyên liệu và những biến đổi của nguyên liệu trong quá trình chế biến.
  • Quy trình công nghệ gia công thực phẩm: phương pháp, cách thức, để làm ra sản phẩm (phần mềm) → Quy trình công nghệ có thể thay đổi.
  • Máy móc, thiết bị, dụng cụ (trang bị kỹ thuật): có nhiều loại sản phẩm không có máy móc, thiết bị thì không cho ra sản phẩm được. Trang bị kỹ thuật là phần cứng.
  • Kinh tế: quản lý, điều hành xí nghiệp, tiêu thụ sản phẩm : nói đến hiệu quả sản xuất, quảng cáo, đào tạo, … Công nghệ không có tính kinh tế sẽ không thành công.

Lựa chọn năng suất

Các loại năng suất:

  • Năng suất lý thuyết: là năng suất lớn nhất mà nhà máy có thể đạt tới trong điều kiện sản xuất lý tưởng → không dùng trong thực tế sản xuất.
  • Năng suất thiết kế là năng suất nhà máy có thể đạt được trong những điều kiện sản xuất bình thường thời gian sản xuất khoảng 300 ngày/năm (số ngày còn lại nhà máy sẽ nghỉ lễ, đại tu, tiểu tu, vệ sinh thiết bị).
NS thiết kế = NS lý thuyết (h) x giờ/ca x ca/ngày x ngày/năm => Lượng sản phẩm/năm
  • Năng suất thực tế: Năng suất thực tế chỉ lấy 90% năng suất thiết kế có khả năng đạt được. Trong thực tế cũng không đạt tới 90% trong thời gian đầu.
  • Năng suất tối thiểu: là năng suất tương ứng với năng suất hoà vốn. (Lượng sản phẩm sản xuất ra khi tiêu thụ, tiền lời đủ bù lại chi phí trong quá trình hoạt động). Khi chọn năng suất thiết kế cho nhà máy không thể nhỏ hơn năng suất hoà vốn.

Cơ sở để lựa chọn năng suất thiết kế:

  • Nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm (hiện tại, tương lai, thành phố, nông thôn, trong nước, quốc tế).
  • Khả năng chiếm lĩnh thị trường của nhà máy.
  • Khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào (nhất là nguyên liệu) : phải đạt số lượng, chất lượng, ít nhất > 10 năm.
  • Khả năng mua công nghệ và thiết bị có năng suất phù hợp.
  • Năng lực tổ chức, điều hành nhà máy, nhân công, …
  • Khả năng vốn đầu tư : thường phân kỳ đầu tư (đầu tư từng giai đoạn)

Lựa chọn mặt hàng sản xuất

Khi thiết kế năng suất nhà máy, thì chọn một sản phẩm để làm cơ sở thiết kế nhưng khi thực hiện thì một nhà máy không nên chọn một sản phẩm, mà phải chọn nhiều sản phẩm nhưng các sản phẩm này có mối quan hệ với nhau.

Ví dụ : nhà máy sản xuất mì ăn liền, kết hợp với cháo ăn liền, phở ăn liền, …

Nguyên liệu: Bao gồm các nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ, phụ gia của nhà máy.

Ví dụ : nhà máy sản xuất bia có nguyên liệu chính là nước, malt, nguyên liệu phụ là gạo, phụ gia là chất cho vào để cải thiện về hương vị, màu sắc (caramel).

Sản phẩm: chính phẩm, thứ phẩm, phế phẩm, cách xử lý, thời gian bảo quản, phương pháp bảo quản.

Lựa chọn quy trình công nghệ

Những nguyên tắc để lựa chọn quy trình công nghệ:

  • QTCN phải thể hiện được mức độ hiện đại, mới, được thiết lập từ những kết quả, thành tựu của nghiên cứu khoa học, sáng tạo, đồng thời phải được qua thực tế sản xuất chứng minh có hiệu quả.
  • QTCN có khả năng sử dụng nguyên liệu tối đa, hiệu suất cao, tốn ít thiết bị và năng lượng.
  • QTCN có thể tận dụng các phế liệu một cách hợp lý đồng thời có khả năng xử lý phế liệu đó thành sản phẩm mới.
  • QTCN phải có mức độ cơ giới hoá cao, sản xuất liên tục.
  • QTCN có giá thành chuyển nhượng thấp, phù hợp với vốn đầu tư.

Cách mô tả QTCN

QTCN được mô tả bằng các quá trình, và liên hệ có logic giữa đầu vào và đầu ra.

  • Cách 1 : Dạng sơ đồ khối
  • Cách 2 : Dạng sơ đồ thiết bị → biểu diễn sự kết nối của các thiết bị.

Thuyết minh QTCN

Nhằm nêu mục đích, nhiệm vụ, chỉ tiêu cần đạt được.

Yêu cầu: Rõ ràng, mạch lạc, tránh sự trùng lắp. Có thể thuyết minh từ khâu nguyên liệu đến sản phẩm hoặc trình bày từng công đoạn.

*Nguyên liệu : tính chất và yêu cầu chất lượng của nguyên liệu.

* Ở mỗi công đoạn :

  • Mục đích và bản chất của quá trình.
  • Các quá trình biến đổi.
  • Các thông số của quá trình đó.

*Thiết bị: Dựa vào mục đích của từng quá trình, những biến đổi của nguyên liệu trong quá trình ấy → Lựa chọn thiết bị thích hợp.

Tính toán và lựa chọn thiết bị

Dựa vào lượng bán thành phẩm và thành phẩm → Xác định năng suất của thiết bị → Lựa chọn thiết bị.

Nguyên tắc tính toán và lựa chọn thiết bị:

Khi tính toán, lựa chọn thiết bị cần chú ý:

  • Năng suất phù hợp. Sau đó xét đến diện tích chiếm chỗ, năng lượng tiêu hao cho máy hoạt động.
  • Máy cho sản phẩm có chất lượng đạt yêu cầu.
  • Tuổi thọ của máy phù hợp với hoạt động của máy, dễ sử dụng, dễ sửa chữa, thay thế phụ tùng.
  • Máy móc phải được trang bị đầy đủ thiết bị kiểm tra, đo lường.
  • Phải lựa chọn thiết bị chính trước. Sau đó căn cứ vào khoảng cách của các thiết bị trong nhà máy ta chọn thiết bị trung gian (băng tải, gàu tải, băng chuyền), vựa chứa.

Sau khi lựa chọn xong, ta lập bảng tổng hợp, ghi chép lại các thông số: năng suất, nhãn hiệu, công suất, chiều cao…và tính toán số lượng máy cho từng quá trình ứng với năng suất.

n = Q/q, trong đó: Q là năng suất nhà máy ứng với từng quá trình, q là năng suất của máy được chọn, n là số nguyên dương.

Sau khi, tính toán và lựa chọn thiết bị phù hợp với quy trình công nghệ, ta tiến hành bố trí thiết bị trong phân xưởng sản xuất. Cần chú ý thiết bị bố trí phải hợp lý, đáp ứng được quy trình công nghệ, tạo thuận lợi trong thao tác vận hành và sửa chữa.